Chào mừng bạn đến với Website Kiên Giang
 

English

 

TIN TỨC-SỰ KIỆN
  Hoạt động HĐND - UBND
  Kinh tế - Chính trị
  Văn Hóa - Xã Hội
  Điểm tin Kiên giang
  Tin Huyện Thị
BẦU CỬ QH VÀ HĐND
  Hoạt động UBBC tỉnh
  Hoạt động UBBC huyện
  Văn bản - Hướng dẫn
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
  Lịch làm việc của Lãnh đạo
  Thông tin chỉ đạo điều hành
  Tin Cải cách hành chính
  Tin công nghệ thông tin
HOẠT ĐỘNG VĂN PHÒNG
GÓP Ý DỰ THẢO VĂN BẢN QPPL
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
  Văn bản hướng dẫn
  Thông tin tiếp công dân
  Kết quả giải quyết khiếu nại
HỌC TẬP VÀ LT TGĐĐ HCM
GÓC LỮ HÀNH
  Đất nước - Con người
  Dành cho khách lữ hành
GIỚI THIỆU KIÊN GIANG
  Tổng quan
  Định hướng - Chiến lược
  Thông tin cần biết
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
DỰ ÁN MD-ICRSL
H.ĐỘNG NGÀNH KIỂM SÁT
THUẾ NHÀ NƯỚC
AN TOÀN GIAO THÔNG
DU LỊCH QUỐC GIA 2016
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 2020
THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN
  Thông tin đấu thầu
  Thông tin đất đai
  Xổ số kiến thiết Kiên Giang
  Góp ý sửa đổi Hiến pháp
Tìm kiếm thông tin

 

Số lượt truy cập

 

 

 

 

 

 

Thông tin được đưa ngày: 12-5-2017
Quy định của pháp luật về các trường hợp không có quyền khởi kiện, không đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự

Quyền khởi kiện là quyền rất quan trọng của công dân, là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân hoặc của người khác và đã được Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Đồng thời, tại Điều 187 BLTTDS cũng quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước, theo đó cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại các Điều 186, Điều 187 BLTTDS nêu trên thì quyền khởi kiện chỉ thuộc về cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc là cá nhân, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác. Tuy nhiên, không phải cá nhân, tổ chức nào khởi kiện cũng được Tòa án chấp nhận và thụ lý giải quyết. Bởi theo BLTTDS thì sau khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện nếu thấy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS, trong đó có hai trường hợp đáng lưu ý đó là trường hợp tại điểm a là “Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự” và trường hợp tại điểm b là “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật”.

Việc trả lại đơn khởi kiện là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân, do đó khi xem xét và trả lại đơn khởi kiện cần phải được xem xét thận trọng, đảm bảo đủ căn cứ, nhất là các trường hợp không có quyền khởi kiện, không đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 192 BLTTDS. Để giải quyết các vướng mắc vấn đề này, vừa qua vào ngày 05/5/2017 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP đã hướng dẫn về các trường hợp không có quyền khởi kiện, không đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại tại các điểm a, b khoản 1 Điều 192 BLTTDS.

Theo đó, tại Điều 2 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định người khởi kiện không có quyền khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Trường hợp thứ nhất: Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 BLTTDS năm 2015:

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 BLTTDS năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C. Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 BLTTDS năm 2015.

Trường hợp thứ hai: Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.

Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.

Ngoài các hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện, tại Điều 3 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP cũng quy định các trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015, cụ thể như sau:

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tóa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Ví dụ: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 32 BLTTDS năm 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.

Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án./.

Xuân Hương

[Trở về]

Các tin đã đưa:

 
 

 

 

 Sở Ban Ngành
   Sở Công Thương
   Quỹ Đầu tư Phát triển
   KS Thủ tục Hành chính
   Viện Kiểm Sát
   Thanh tra tỉnh
   Chi Cục QL Thị trường
   Sở TT Truyền Thông
   Sở Lao động TB&XH
   Sở Giao thông vận tải
   Sở Khoa học Công nghệ
   Sở Nông nghiệp và PTNT
   Sở Nội Vụ
   Sở Tài chính
   Sở Y tế
   Xúc tiến Thương mại
   Liên Minh Hợp Tác Xã
   Sở Ngoại Vụ
   Sở Tài Nguyên MT
   Sở Xây dựng
 Các Huyện Thị
   Thị Xã Hà Tiên
   Thành Phố Rạch Giá

Dịch vụ công trực tuyến

Các Website liên kết

 

 

 

Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang - www.kiengiang.gov.vn

Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang

Cơ quan thiết lập: Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang

Giấy phép do Cục Báo chí cấp, số: 70/GP-BC

Chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Vĩnh Lạc, Chánh Văn Phòng UBND tỉnh Kiên Giang

Địa chỉ BBT: 06 Nguyễn Công Trứ - Vĩnh Thanh - Rạch Giá - Kiên Giang

Điện thoại: (0297) 3944977 , Fax: (0297) 3862687 , Email: bbt@kiengiang.gov.vn

Ghi rõ nguồn "www.kiengiang.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ Website này.