Chào mừng bạn đến với Website Kiên Giang
 

English

 

TIN TỨC-SỰ KIỆN
  Hoạt động HĐND - UBND
  Kinh tế - Chính trị
  Văn Hóa - Xã Hội
  Điểm tin Kiên giang
  Tin Huyện Thị
BẦU CỬ QH VÀ HĐND
  Hoạt động UBBC tỉnh
  Hoạt động UBBC huyện
  Văn bản - Hướng dẫn
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
  Lịch làm việc của Lãnh đạo
  Thông tin chỉ đạo điều hành
  Tin Cải cách hành chính
  Tin công nghệ thông tin
HOẠT ĐỘNG VĂN PHÒNG
GÓP Ý DỰ THẢO VĂN BẢN QPPL
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
  Văn bản hướng dẫn
  Thông tin tiếp công dân
  Kết quả giải quyết khiếu nại
HỌC TẬP VÀ LT TGĐĐ HCM
GÓC LỮ HÀNH
  Đất nước - Con người
  Dành cho khách lữ hành
GIỚI THIỆU KIÊN GIANG
  Tổng quan
  Định hướng - Chiến lược
  Thông tin cần biết
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
DỰ ÁN MD-ICRSL
H.ĐỘNG NGÀNH KIỂM SÁT
THUẾ NHÀ NƯỚC
AN TOÀN GIAO THÔNG
DU LỊCH QUỐC GIA 2016
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 2020
THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN
  Thông tin đấu thầu
  Thông tin đất đai
  Xổ số kiến thiết Kiên Giang
  Góp ý sửa đổi Hiến pháp
Tìm kiếm thông tin

 

Số lượt truy cập

 

 

 

 

 

 

Thông tin được đưa ngày: 22-5-2017
Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về địa chỉ của người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Vấn đề “địa chỉ” của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án dân sự, hành chính vẫn đang là một vấn đề phức tạp, nhất là trong những trường hợp không xác định được địa chỉ hoặc do cố tình giấu địa chỉ dẫn đến nhiều vụ án phải kéo dài thời gian giải quyết, thậm chí phải tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, dẫn đến gây ra trở ngại rất lớn cho việc thực hiện quyền khởi kiện của người khởi kiện.

Theo quy định hiện hành của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 thì đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 quy định:

“Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.”

Sau khi nhận đơn khởi kiện, nếu đơn khởi kiện không ghi đầy đủ địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhất là đối với địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 191 BLTTDS năm 2015 để yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Nếu người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu thì Thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện (khoản 2 Điều 193 BLTTDS năm 2015). Đồng thời, tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 có quy định đối với trường hợp trả lại đơn khởi kiện này như sau:

“Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện”.

2. Để thống nhất thực hiện đối với trường hợp trả đơn khởi kiện theo điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS này, tại Điều 5 Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn cụ thể về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau:

(1) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật Cư trú;

(2) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

(3) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác đinh căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;

(4) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết dịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cơ quan, tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.

Trong trường hợp người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn nêu trên và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Cũng cần lưu ý rằng địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.

3. Khi trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn nêu trên thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung. Tuy nhiên, trên thực tế giải quyết vụ án cho thấy có rất nhiều trường hợp đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn nêu trên và sau khi Tòa án thụ lý vụ án, nhưng Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp, trong những trường hợp này thì Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn như sau:

a) Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khỏan 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

b) Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam (là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật) thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ trụ sở”. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

c) Đối với trường hợp không thuộc điểm a, b nêu trên mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015.

Trường hợp sau khi thụ lý vụ án mà phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cung cấp địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó. Nếu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ thì đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có liên quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015.

Đối với vụ án bị đình chỉ giải quyết theo trường hợp này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

* Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án, đó là:

Trường hợp 1: Đối với vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế mà nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật nhưng không xác định được địa chỉ của người đó thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Phần tài sản mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ được nhận thì Tòa án tạm giao cho người thân thích của người đó hoặc người thừa kế khác quản lý. Quyền, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Trường hợp 2: Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án nếu thuộc quy định tại điểm b, c khoản 5 và điểm c khoản 6 Điều 477 BLTTDS năm 2015. Đó là các trường hợp xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ, cụ thể: Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài khi Tòa án đã thực hiện các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 474 của BLTTDS năm 2015; hoặc khi Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền về kết quả thực hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước ngoài; hoặc khi trong rường hợp nguyên đơn là công dân Việt Nam yêu cầu ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài mà không thể thực hiện việc cung cấp đúng họ, tên, địa chỉ hoặc địa chỉ mới của người nước ngoài theo yêu cầu của Tòa án mặc dù nguyên đơn, thân nhân của họ hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài đã tiến hành xác minh tin tức, địa chỉ của người nước ngoài đó nhưng không có kết quả thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của Trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Trong trường hợp này, Tòa án không phải tống đạt lại văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày đăng thông báo, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Với những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn của Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về địa chỉ của đương sự cũng như việc xử lý các trường hợp ghi địa chỉ của  người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đã tạo được sự thống nhất về mặt nhận thức, từ đó giúp cho việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án được thuận tiện, nhanh chóng, khách quan, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân./.

Xuân Hương (P10)

[Trở về]

Các tin đã đưa:

 
 

 

 

 Sở Ban Ngành
   Sở Công Thương
   Quỹ Đầu tư Phát triển
   KS Thủ tục Hành chính
   Viện Kiểm Sát
   Thanh tra tỉnh
   Chi Cục QL Thị trường
   Sở TT Truyền Thông
   Sở Lao động TB&XH
   Sở Giao thông vận tải
   Sở Khoa học Công nghệ
   Sở Nông nghiệp và PTNT
   Sở Nội Vụ
   Sở Tài chính
   Sở Y tế
   Xúc tiến Thương mại
   Liên Minh Hợp Tác Xã
   Sở Ngoại Vụ
   Sở Tài Nguyên MT
   Sở Xây dựng
 Các Huyện Thị
   Thị Xã Hà Tiên
   Thành Phố Rạch Giá

Dịch vụ công trực tuyến

Các Website liên kết

 

 

 

Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang - www.kiengiang.gov.vn

Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang

Cơ quan thiết lập: Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang

Giấy phép do Cục Báo chí cấp, số: 70/GP-BC

Chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Vĩnh Lạc, Chánh Văn Phòng UBND tỉnh Kiên Giang

Địa chỉ BBT: 06 Nguyễn Công Trứ - Vĩnh Thanh - Rạch Giá - Kiên Giang

Điện thoại: (0297) 3944977 , Fax: (0297) 3862687 , Email: bbt@kiengiang.gov.vn

Ghi rõ nguồn "www.kiengiang.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ Website này.