Chào mừng bạn đến với Website Kiên Giang
 

English

 

TIN TỨC-SỰ KIỆN
  Hoạt động HĐND - UBND
  Kinh tế - Chính trị
  Văn Hóa - Xã Hội
  Điểm tin Kiên giang
  Tin Huyện Thị
BẦU CỬ QH VÀ HĐND
  Hoạt động UBBC tỉnh
  Hoạt động UBBC huyện
  Văn bản - Hướng dẫn
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
  Lịch làm việc của Lãnh đạo
  Thông tin chỉ đạo điều hành
  Tin Cải cách hành chính
  Tin công nghệ thông tin
HOẠT ĐỘNG VĂN PHÒNG
GÓP Ý DỰ THẢO VĂN BẢN QPPL
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
  Văn bản hướng dẫn
  Thông tin tiếp công dân
  Kết quả giải quyết khiếu nại
HỌC TẬP VÀ LT TGĐĐ HCM
GÓC LỮ HÀNH
  Đất nước - Con người
  Dành cho khách lữ hành
GIỚI THIỆU KIÊN GIANG
  Tổng quan
  Định hướng - Chiến lược
  Thông tin cần biết
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
DỰ ÁN MD-ICRSL
H.ĐỘNG NGÀNH KIỂM SÁT
THUẾ NHÀ NƯỚC
AN TOÀN GIAO THÔNG
DU LỊCH QUỐC GIA 2016
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 2020
THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN
  Thông tin đấu thầu
  Thông tin đất đai
  Xổ số kiến thiết Kiên Giang
  Góp ý sửa đổi Hiến pháp
Tìm kiếm thông tin

 

Số lượt truy cập

 

 

 

 

 

 

Thông tin được đưa ngày: 24-1-2018
Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018

Hội nghị trực tuyến kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh năm 2017.

Thực hiện nhiệm vụ năm 2017, bên cạnh những thuận lợi, tình hình trong tỉnh cũng còn nhiều yếu tố gây khó khăn, bất lợi, nhưng nhờ có sự phấn đấu của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh nên tình hình tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực…

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; Nghị quyết số 65/2016/NQ-HĐND ngày 19/12/2016 của HĐND tỉnh Kiên Giang về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, UBND tỉnh đã ban hành các chương trình, kế hoạch chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, kết quả đạt được như sau:

Thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 theo Nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện đạt và vượt 17/22 chỉ tiêu; 05/22 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch (trong đó có 01 chỉ tiêu gần đạt).

I. VỀ KINH TẾ

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2017 theo (giá so sánh 2010) ước tính tăng 7,39% so với cùng kỳ năm 2016. Trong mức tăng chung: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,21%, đóng góp cho tăng trưởng chung 1,19 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,54%, đóng góp tăng trưởng chung 2,11 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ  tăng 9,64%, đóng góp tăng trưởng chung 3,81 điểm phần trăm; thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,42%, đóng góp tăng trưởng chung 0,28 điểm phần trăm.

Thu nhập bình quân đầu người 1.865 USD, đạt 104,71% kế hoạch.

1. Tình hình phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới

Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (theo giá so sánh 2010) đạt 56.431,64 tỷ đồng, đạt 98,3% kế hoạch, tăng 4,6% so cùng kỳ.

- Nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu về chủ đề năm 2017 “Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn với đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới”. Chỉ đạo các ngành chức năng và các địa phương tập trung triển khai các đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị sản xuất theo chuỗi giá trị; nâng cao chất lượng giống. Tổng diện tích gieo trồng 735.266 ha, đạt 101,07% so kế hoạch, giảm 4,02% so cùng kỳ. Năng suất thu hoạch bình quân ước đạt 5,6 tấn/ha, giảm 0,61 tấn/ha so kế hoạch (kế hoạch 6,21 tấn/ha) và giảm 0,11 tấn/ha so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch lúa cả năm ước đạt 4.056.126 tấn, đạt 89,73% kế hoạch, giảm 2,54% so năm 2016. Diện tích sản xuất lúa chất lượng cao chiếm trên 70% tổng diện tích sản xuất lúa. Thực hiện sản xuất lúa theo hướng VietGAP phát triển mạnh, có 169 cánh đồng lớn, diện tích 62.539 ha.

- Đã gieo trồng được 1.532 ha khoai lang, 650 ha khoai mỳ; 1.410 ha dưa hấu, 275 ha ngô và 8.950 ha rau, đậu màu các loại, góp phần tăng thêm thu nhập cho bà con nông dân. Riêng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâu năm tiếp tục duy trì phát triển ổn định như: tiêu, khóm, mía...

- Tình hình chăn nuôi trong tỉnh tiếp tục ổn định, đã chủ động phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, được quan tâm thực hiện; bệnh cúm gia cầm được kiểm soát chặt chẽ, không để phát sinh dịch bệnh nghiêm trọng và lây lan ra diện rộng.

Nhìn chung, tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2017 gặp khó khăn do biến đổi khí hậu, mặc dù ngành nông nghiệp đã có chỉ đạo tổ chức triển khai sớm kế hoạch sản xuất tất cả các vụ trong năm phù hợp cho từng tiểu vùng để né tránh hạn, mặn và lũ lụt… Tuy nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết mưa muộn kéo dài và dịch bệnh nhất là diện tích lúa vụ Đông Xuân bị muỗi hành gây hại tương đối nhiều. Riêng đối với những trà lúa sạ sớm, thời điểm lúa đang trỗ bông trùng vào thời điểm thời tiết có mưa nhiều, đối với những trà lúa sạ muộn thì bị ảnh hưởng mưa trái mùa làm lúa bị đỗ ngã, ngập úng cục bộ. Bên cạnh đó, trời se lạnh có sương mù vào buổi sáng tạo điều kiện thuận lợi cho sâu - bệnh phát triển nên năng suất, sản lượng thu hoạch lúa cả năm không đạt kế hoạch đề ra.

- Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng được ngành chức năng thường xuyên phối kết hợp với các địa phương tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân bảo vệ rừng, tích cực tuần tra, kiểm soát để ngăn chặn hành vi xâm hại đến diện tích rừng, xử lý kịp thời các vụ việc chặt phá rừng trái phép. Tỷ lệ che phủ của rừng đạt 10,96%.

- Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 765.275 tấn, đạt 101,4% kế hoạch năm, tăng 6,83% (tăng 48,90 ngàn tấn) so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng tôm nuôi đạt 65.190 tấn, vượt 3,48% và tăng 14,62% so cùng kỳ.

- Thực hiện chính sách phát triển thủy sản, các tổ chức tín dụng đã thực hiện ký hợp đồng cho vay đóng mới và nâng cấp được 43 tàu, với tổng số tiền cam kết cho vay là 289,57 tỷ đồng, đã thực hiện giải ngân 270,5 tỷ đồng. Số tàu hạ  thủy là 34/43 tàu đi vào khai thác sử dụng (có 01 tàu vỏ thép đã ra khơi, hoạt động tốt).

- Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể các cấp tăng cường tập trung chỉ đạo, số lượng xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt kế hoạch đề ra. Trong năm, dự kiến có 12 xã được công nhận đạt chuẩn nông nông mới (vượt 01 xã). Hiện nay, toàn tỉnh có 40 xã và huyện Tân Hiệp được công nhận huyện nông thôn mới. Toàn tỉnh bình quân đạt khoảng 14,7 tiêu chí/xã, xã đạt thấp nhất là 6 tiêu chí. Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, hoàn thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được đảm bảo.

- Kinh tế tập thể tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, đã thành lập mới 50 hợp tác xã, vượt 233% kế hoạch và 106 tổ hợp tác, vượt 32,5% kế hoạch. Toàn tỉnh hiện có 339 hợp tác xã và 2.215 tổ hợp tác. Để phát triển sản xuất - kinh doanh, nhiều hợp tác xã, trang trại đã tăng cường đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động. Từng bước hình thành liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp với hộ nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ.

2. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp 41.811,69 tỷ đồng, đạt 98,41% kế hoạch, tăng 8,1% so với cùng kỳ. Sản xuất công nghiệp còn nhiều khó khăn nhưng vẫn giữ được đà tăng trưởng, nhiều sản phẩm có mức tăng khá so cùng kỳ. Nhìn chung, mức sản xuất sản phẩm các ngành công nghiệp năm 2017 đạt khá so cùng kỳ năm trước, nhưng không đều và có một số mặt hàng giảm đã ảnh hưởng đến giá trị sản xuất toàn ngành không đạt kế hoạch đề ra.

Đã tập trung chỉ đạo thông qua các cuộc hội nghị giao lưu, đối thoại trực tiếp đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh và ban hành chương trình hỗ trợ, xúc tiến đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh.

Triển khai thực hiện 05 công trình chuyển tiếp và đầu tư mới 08 công trình phát triển lưới điện tại các xã Vĩnh Hòa, xã Thạnh Yên, huyện U Minh Thượng; xã Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận; xã Ngọc Thuận, xã Vĩnh Phú, huyện Giồng Riềng; xã Vĩnh Hòa Phú, huyện Châu Thành; huyện Giang Thành góp phần tăng tỷ lệ sử dụng điện toàn tỉnh đạt 98,6%.

Đầu tư các khu công nghiệp được đẩy mạnh. Ước tổng giá trị đầu tư vào các khu công nghiệp trong năm 2017 đạt 659,679 tỷ đồng , lũy kế giá trị đầu tư các khu công nghiệp từ khi triển khai đến nay đạt 3.624,741 tỷ đồng, trong đó: Khu công nghiệp Thạnh Lộc, giá trị đầu tư 618,5 tỷ đồng với 07 dự án đang hoạt động sản xuất; Khu công nghiệp Thuận Yên giá trị đầu tư đạt 41 tỷ đồng với 01 dự án đang hoạt động sản xuất (nhà máy gạch Tuynel).

Thực hiện chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ (giai đoạn 2), đã xét duyệt cho 1.540 hộ, đạt tỷ lệ 100%; xây dựng hoàn thành và đưa dân vào ở 1.297/1.540 căn, đạt tỷ lệ 84%; hiện còn lại 243 căn, trong đó: đang xây dựng 89 căn và chưa xây dựng 154 căn do thiếu vốn. Tổng số vốn của dự án đã giải ngân 128,78/190,69 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 67,53%.

Công tác quản lý tài nguyên, môi trường và khoáng sản được quan tâm. Tập trung chỉ đạo xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính ở một số địa phương. Giải quyết thủ tục hành chính, nhất là công tác xử lý hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân từng bước khắc phục được sự chậm trễ, phiền hà cho nhân dân. Công tác thanh tra, kiểm tra trên lĩnh vực đất đai, khoáng sản, môi trường được tăng cường.

3. Thương mại – dịch vụ và xuất khẩu

Thương mại và dịch vụ tiếp tục phát triển. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 84.084 tỷ đồng, đạt 100,7% kế hoạch và tăng 15,2% so với cùng kỳ. Thị trường ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng; duy trì triển khai chương trình bình ổn giá, đưa hàng Việt về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nhất là trong dịp lễ, Tết, đáp ứng nhu cầu của người dân.

Hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch được đẩy mạnh, nâng cao chất lượng và tăng cường công tác kết nối giao thương, thu hút đầu tư và quảng bá du lịch, hỗ trợ doanh nghiệp tham dự sự kiện, diễn đàn trong và ngoài nước để giới thiệu sản phẩm. Trong năm, có 06 hoạt động xúc tiến thương mại tại nước ngoài: Campuchia, Lào, Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ, Bắc Mỹ. Qua các hoạt động, doanh nghiệp Kiên Giang kết nối với đối tác đến từ Australia, Newzealand, Israel để xuất khẩu các mặt hàng thủy sản đóng hộp và liên kết thực hiện quy trình trồng rau sạch, bảo quản nông sản sau thu hoạch. Tại hội chợ, các hợp tác xã và doanh nghiệp của tỉnh đã ký kết bản ghi nhớ, hợp đồng kinh tế, mở đại lý tiêu thụ các sản phẩm.

Tình hình xuất khẩu có bước khởi sắc. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính 470 triệu USD, đạt 117,5% kế hoạch, tăng 34,27% so với cùng kỳ . Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ là do các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đều tăng về lượng so cùng kỳ; xuất khẩu thủy sản tăng nhờ các thị trường truyền thống có nhu cầu trở lại; với sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác và đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại đáp ứng các quy định về kiểm soát chất lượng của thị trường nhập khẩu. Bên cạnh đó, các chính sách về phát triển thương mại biên giới được triển khai như chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng được thực hiện tốt hơn góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp tăng trở lại. Kim ngạch nhập khẩu 60 triệu USD, đạt 120% kế hoạch, giảm 10,7% so cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất.

Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển. Tổng lượt khách du lịch 6,07 triệu lượt khách, đạt 104,45% kế hoạch, tăng 7,84% so cùng kỳ. Trong đó, số khách quốc tế 368,2 ngàn lượt khách, đạt 102,28% kế hoạch, tăng 18,86%. Số khách du lịch đến tỉnh tăng chủ yếu từ một số tuyến du lịch trên các tuyến biển đảo như: Huyện Phú Quốc, quần đảo Nam Du (Kiên Hải), quần đảo Bà Lụa (Kiên Lương)… Riêng Phú Quốc, thu hút trên 2,96 triệu lượt khách, đạt 105,8% kế hoạch, tăng 11,8% so cùng kỳ. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao; hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch từng bước được đẩy mạnh; hoạt động lữ hành được quản lý và kiểm soát chặt chẽ, phục vụ tốt nhiều đoàn khách quốc tế. Các dự án quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh được quan tâm đầu tư.

4. Giao thông - vận tải

Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông bền vững đảo Phú Quốc giai đoạn đến năm 2020 và định hướng 2030; điều chỉnh quy hoạch phát triển vận tải hành khách bằng xe buýt và xe taxi trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030; quy hoạch phân khu cụm cảng Hà Tiên; quy hoạch chi tiết cảng hành khách Rạch Giá; lập quy hoạch cảng Đá Chồng và cảng Nam Du.

Công tác quản lý kết cấu hạ tầng giao thông được quan tâm thực hiện, đáp ứng nhu cầu vận tải phục vụ nhân dân. Vận tải hàng hóa được 10,75 triệu tấn, đạt 100,05% kế hoạch và tăng 7,47% so cùng kỳ; vận chuyển hành khách 76 triệu lượt người, đạt 100,22% kế hoạch và tăng 8,87% so với cùng kỳ.

Giao thông nông thôn thực hiện xây dựng được 381,42/328 km, đạt 116,3% kế hoạch năm nâng tổng số km đường giao thông nông thôn được nhựa hóa hoặc bê tông hóa của tỉnh 5.116 km/7.084 km, đạt 72,21% (kế hoạch đề ra 68%), góp phần làm cho các xã đạt tiêu chí nông thôn mới.

5. Tình hình đầu tư

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2017 là 43.564,7 tỷ đồng, đạt 97,5% kế hoạch năm, tăng 11,24% so cùng kỳ. Chia ra: Vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý 35.816,10 tỷ đồng, đạt 91,0% kế hoạch, tăng 4,19%;  vốn đầu tư của Bộ ngành quản lý 7.748,60 tỷ đồng, đạt 140,88% kế hoạch, tăng 61,9% so cùng kỳ.

Công tác đầu tư xây dựng cơ bản có nhiều tiến bộ. Các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm được tăng cường chỉ đạo, kiểm tra; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc. Ước triển khai thực hiện nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương đến 31/12/2017 có giá trị khối lượng hoàn thành 3.981,21 tỷ đồng, đạt 95,77% kế hoạch; giá trị giải ngân 3.959,15 tỷ đồng, đạt 95,24% kế hoạch.

Chỉ đạo các ngành và địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai các dự án đầu tư. Trong năm đã thu hút 40 dự án, với vốn đăng ký 50.495,96 tỷ đồng; thành lập mới cho 1.449 doanh nghiệp, tăng 15% so cùng kỳ với tổng vốn đăng ký 14.462,79 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ. Thu hồi 07 dự án do không thực hiện đúng cam kết; giải thể 310 doanh nghiệp, giảm 34% so cùng kỳ (các doanh nghiệp giải thể chủ yếu doanh nghiệp kinh doanh nhỏ, lẻ hoặc kinh doanh không hiệu quả hoặc chuyển sang hộ kinh doanh cá thể).

Tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp có chiều hướng phát triển hơn, có nhiều doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay trở lại kinh doanh tạo thêm công việc cho người lao động, lương chi trả cho công nhân cũng khá hơn so với các năm trước.

6. Tài chính – tín dụng

Thực hiện tốt công tác quản lý và khai thác hiệu quả các nguồn thu. Tổng thu ngân sách đạt 8.938 tỷ đồng, đạt 101,13% so dự toán, tăng 12,6% so cùng kỳ. Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, nhất là chi thường xuyên; tổng chi là 12.003,64 tỷ đồng, vượt 1,22% so dự toán HĐND tỉnh giao, trong đó chi đầu tư phát triển 3.871,97 tỷ đồng, đạt 96,12% kế hoạch; đồng thời, đảm bảo nguồn kinh phí chi thực hiện các chính sách an sinh xã hội và nhiệm vụ phát sinh...

Ngành ngân hàng triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phù hợp với chủ trương, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng theo Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 của tỉnh. Tổng nguồn vốn hoạt động đạt 68.100 tỷ đồng, tăng 5,5% so đầu năm và tăng 18,72% so cùng kỳ, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương là 39.000 tỷ đồng, tăng 21,06% so cùng kỳ. Doanh số cho vay đạt 106.000 tỷ đồng; dư nợ cho vay 54.500 tỷ đồng, tăng 18,9% so cùng kỳ. Chất lượng tín dụng được kiểm soát, mức lãi suất huy động và cho vay ổn định, tỷ lệ nợ xấu còn 1,11% (giảm 0,07% so cùng kỳ).

II. VỀ VĂN HÓA – XÃ HỘI

1. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Hệ thống trường, lớp học, trang thiết bị được tiếp tục đầu tư, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, kiểm định đánh giá chất lượng giáo dục; triển khai nhân rộng mô hình trường học mới phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Năm học 2017-2018 có 670 đơn vị trường học, trong đó có 212 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 21 trường. Kiên Giang được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp tăng, huy động trẻ từ 6-14 tuổi đạt 96,06% tăng 0,03% so với năm học trước. Hiện có 145/145 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (gồm 84 xã đạt mức độ 1 và 61 xã đạt mức độ 2); tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2016-2017 đạt 96,64% (tăng 4,48% so với năm học trước); tỷ lệ trúng tuyển đại học, cao đẳng 38,99% (có 4.154 thí sinh trúng tuyển/10.657 thí sinh dự thi).

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy tiếp tục được đẩy mạnh; công tác tập huấn chuyên môn nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viện và cán bộ quản lý được thực hiện có chất lượng, công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi dự thi quốc gia có nhiều đổi mới về hình thức và phương pháp tổ chức đạt hiệu quả cao; kết quả năm 2017 toàn tỉnh đạt 14 giải: 02 giải nhì, 03 giải Ba và 09 giải khuyến khích tăng 05 giải so với năm 2016.

2. Lĩnh vực y tế

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên, triển khai các giải pháp giảm quá tải bệnh viện, thực hiện quy tắc giao tiếp ứng xử, đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế, qua đó bước đầu đã đạt một số kết quả tích cực, chủ động triển khai các biện pháp kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh, khống chế kịp thời và không để dịch lớn xảy ra, tuy nhiên một số bệnh truyền nhiễm còn tăng so với cùng kỳ. Thực hiện tốt đề án bệnh viện vệ tinh. Hiện có 6,62 bác sĩ/vạn dân so với năm 2016 là 6,45 bác sĩ/vạn dân. Công tác thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm được quan tâm chỉ đạo. Hoàn thành việc xây dựng mới và đưa vào sử dụng Khoa Nội B, Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện chuyên khoa. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế toàn dân đạt 80,52% (kế hoạch 79%). Trong năm, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào. Ghi nhận có 194 cas mắc lẻ (chủ yếu là ngộ độc rượu, ngộ độc hải sản), tỷ lệ ca bị ngộ độc thực phẩm/100.000 dân là 12,28%.

3. Thực hiện các chính sách xã hội, lao động và việc làm; công tác chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới; công tác thanh niên

Kết quả sơ bộ rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2017, toàn tỉnh còn 26.951 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,21%, giảm 2,11% (kế hoạch giảm từ 1-1,5%), hộ cận nghèo 20.515 hộ chiếm tỷ lệ 4,73% (tăng 0,21%) (tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí tiếp cận đa chiều). Trong năm, đã thực hiện trợ cấp xã hội cho 48.538 đối tượng với kinh phí 216,9 tỷ đồng.

Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng. Tổ chức nhiều phiên giao dịch việc làm, qua đó, giải quyết việc làm cho 38.255 lượt người đạt 109,3% kế hoạch, trong đó giải quyết việc làm trong tỉnh 18.382 lượt người; ngoài tỉnh 19.781 lượt người, xuất khẩu lao động 92 người. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức đào tạo cho 25.500 người đạt 102% kế hoạch, trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg được 11.500 người; sinh viên tốt nghiệp 24.584 người, nâng tỷ lệ lao động có bằng cấp chứng chỉ đạt 46,5%, đạt 100% kế hoạch.

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe trẻ em và bình đẳng giới được quan tâm triển khai thực hiện. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 0,2% so với năm 2016. Tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí; tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật về trẻ em, bình đẳng giới và các hoạt động về phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới.

Quan tâm giải quyết việc làm, đào tạo, bồi dưỡng nhận thức chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống, cách mạng cho thanh niên; nâng cao vai trò của thanh niên phát triển nhiều mặt, nhất là thanh niên người dân tộc thiểu số, thanh niên thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo…

4. Văn hoá, thể thao; thông tin và truyền thông

Tổ chức thành công các sự kiện lễ hội, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao phục vụ kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng. Công tác gia đình được quan tâm chỉ đạo, nhấn mạnh vai trò của giáo dục gia đình đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được nâng cao, đến nay có 47/145 xã, phường, thị trấn, đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 32,4%. Thể thao thành tích cao có bước phát triển mới, đăng cai tổ chức thành công các giải thể thao khu vực, toàn quốc và quốc tế.

Công tác thông tin, truyền thông tập trung vào các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện quan trọng của tỉnh. Thực hiện tốt lộ trình số hoá truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến cuối năm 2017. Triển khai tốt chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2020. Hạ tầng công nghệ thông tin tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cấp đã đưa vào vận hành chính thức giai đoạn 1 Đề án xây dựng thành phố thông minh Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016-2020 và đang tiếp tục lập đề án triển khai tại thành phố Rạch Giá. Triển khai hoạt động vận hành tốt Cụm thông tin đối ngoại cửa khẩu quốc tế Hà Tiên góp phần tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về đối ngoại.

5. Khoa học, công nghệ

Triển khai kế hoạch thực hiện chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Quản lý tốt các đề tài, dự án khoa học và công nghệ (cấp tỉnh 82 đề tài, cấp cơ sở 74 đề tài). Công tác thanh tra, kiểm tra về đo lường, chất lượng hàng hóa được thực hiện thường xuyên đến nay đã tổ chức 07 cuộc thanh tra tại 187 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh. Tiếp tục triển khai tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp về giải pháp tăng năng suất, chất lượng, sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Nhiệm vụ quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; hoạt động ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ và phân tích kiểm nghiệm, đo lường chất lượng được duy trì phát huy hiệu quả. Duy trì, áp dụng và cải tiến tốt hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO tại các cơ quan hành chính trong tỉnh.

6. Công tác dân tộc - tôn giáo

Thực hiện tốt chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Thường xuyên quan tâm và triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số; tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào tổ chức tốt các lễ hội truyền thống. Tăng cường tuyên truyền vận động các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, giảm nghèo bền vững...

Tình hình kinh tế, đời sống văn hóa - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được phát triển. Triển khai thực hiện tốt các Chương trình y tế quốc gia, vệ sinh môi trường, chăn sóc sức khỏe, khám chữa bệnh miễm phí trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong năm, đã cấp được 69.677 thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở 26 xã thuộc vùng khó khăn; triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ nước sinh hoạt cho vùng đồng bào dân tộc.

III. QUỐC PHÒNG - AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI

1. Công tác quốc phòng

Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng khu vực phòng thủ; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, chủ động nắm chắc và dự báo tình hình, giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh. Công tác huấn luyện diễn tập được thực hiện khá tốt; hoàn thành diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh; cấp huyện và chiến đấu phòng thủ cấp xã. Chỉ đạo hoàn thành tốt công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017 đạt chỉ tiêu. Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được sắp xếp biên chế hợp lý, chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng lên.

2. Công tác đảm bảo an ninh, phòng chống tội phạm và giữ gìn an ninh trật tự

Lực lượng Công an chủ động nắm phân tích, dự báo tình hình và tổ chức thực hiện có hiệu quả các mặt công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Tổ chức tốt các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo vệ tuyệt đối, an toàn các sự kiện chính trị quan trọng và các ngày lễ, kỷ niệm lớn, các đoàn của Trung ương và quốc tế đến tỉnh làm việc. Phạm pháp hình sự xảy ra 1.037 vụ, giảm 107 vụ, đã điều tra khám phá 959 vụ, đạt 92,48 %, bắt xử lý 1.214 đối tượng.

Tăng cường thực hiện các biện pháp phòng chống cháy nổ, đảm bảo an toàn giao thông. Tai nạn giao thông giảm cả 3 mặt so với năm 2016. Toàn tỉnh xảy ra 200 vụ (giảm 22 vụ), làm chết 98 người (giảm 26 người) và làm bị thương 138 người (giảm 41 người) (tính từ ngày 16/12/2016 đến 15/11/2017). Tuy nhiên số vụ tai nạn nghiêm trọng vẫn còn khá cao (chiếm 69,5%/tổng số vụ), nguyên nhân chủ yếu là do ý thức của một số người khi tham gia giao thông trên các tuyến Quốc lộ không tuân thủ quy định an toàn giao thông như lấn đường, sử dụng rượu bia, không chú ý quan sát… Xảy ra 34 vụ cháy, không có vụ nổ xảy ra, làm 04 người thiệt mạng và 01 người bị thương. Thiệt hại ước tính 29,7 tỷ đồng.

3. Hoạt động đối ngoại

Tiếp tục mở rộng và tăng cường quan hệ với các đối tác trong khu vực và quốc tế, trong đó duy trì quan hệ hữu nghị truyền thống với các tỉnh, thành phố Campuchia; phối hợp giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vấn đề nảy sinh trên tuyến biên giới, trên biển. Ký kết hợp tác với Trường Đại học Kyung Nam và Trường Đại học Daedong, Hàn Quốc về lĩnh vực giáo dục đào tạo và chính quyền tỉnh Yamaguchi, Nhật Bản về lĩnh vực thủy sản.

Công tác quản lý đoàn ra, đoàn vào, bảo hộ công dân, bảo trợ ngư dân được tăng cường, chủ động phối hợp với cơ quan chức năng xử lý các vụ việc tàu thuyền và ngư dân bị nạn, bị bắt, xét xử, giam giữ ở nước ngoài, để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân Kiên Giang ở nước ngoài. Tạo điều kiện cho các phóng viên, báo chí nước ngoài đến địa phương tác nghiệp và tham gia hoạt động báo chí. Hợp tác quốc tế với các nước được mở rộng.

Phối hợp tiếp tục thực hiện phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Đến nay, đã xác định được 23/28 vị trí mốc chính và xây dựng hoàn thành 22/28 cột mốc chính, còn 01 mốc chính 301 đang triển khai xây dựng; phân giới được 32.310 mét đường biên giới và xác định được 80/80 vị trí mốc phụ (35 vị trí mốc mang số hiệu chẵn, 45 vị trí mang số hiệu lẻ). Tỉnh Kiên Giang đã xây dựng xong 34/35 công trình mốc phụ số hiệu chẵn.

4. Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng và tuyên truyền phổ biến pháp luật

UBND các cấp và thủ trưởng các sở, ngành chỉ đạo Thanh tra cùng cấp triển khai 198 cuộc thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, kết thúc 181 cuộc, trên một số lĩnh vực về quản lý sử dụng tài chính, ngân sách, xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội. Qua thanh tra phát hiện sai phạm số tiền trên 34.173 triệu đồng; kiểm điểm rút kinh nghiệm 192 tập thể, 271 cá nhân, kiểm điểm có hình thức kỷ luật 122 cá nhân; thu nộp ngân sách 28,244 tỷ đồng. Tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc thực hiện 31 kết luận, quyết định xử lý sau thanh tra từ năm 2016 trở về trước, kết quả đã đôn đốc thực hiện dứt điểm 14 kết luận, thu hồi 1.473 triệu đồng/3.494 triệu đồng, đạt 42,16%.

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp và tổ chức đối thoại với công dân được quan tâm chỉ đạo thực hiện, số đơn khiếu nại giảm so với cùng kỳ năm 2016 (giảm 13,21%). Về tố cáo, lượng đơn tăng 10 đơn (tăng 100%) so với cùng kỳ, tập trung ở sở, ngành và cấp huyện (nội dung chủ yếu là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, việc thực hiện chính sách người có công...)

Trong năm, Chủ tịch UBND tỉnh tiếp công dân định kỳ và đối thoại trước khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại được 10 lượt 100 vụ việc, Ban Tiếp công dân tỉnh và Thanh tra các cấp, các ngành tiếp công dân thường xuyên được 4.340 lượt người và 45 lượt đoàn đông người với 851 hộ. Thủ trưởng các sở, ngành và Chủ tịch UBND cấp huyện tiếp công dân định kỳ và đột xuất được 200 lượt 717 người. Ngoài ra, UBND tỉnh còn phối hợp tốt với HĐND tỉnh và các cơ quan liên quan trong việc tiếp công dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật. Tiếp tục duy trì Tổ công tác hỗ trợ UBND huyện Phú Quốc thẩm tra, xác minh, giúp Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc giải quyết đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền và xử lý những vướng mắc trong giải tỏa bồi thường.

Công tác phòng, chống tham nhũng được quan tâm chỉ đạo; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tất các sở, ban, ngành cấp tỉnh được tăng cường. Chỉ đạo UBND cấp huyện đã tổ chức triển khai, quán triệt và thực hiện Kế hoạch số 20/KH-UBND tỉnh ngày 10/02/2017 của UBND tỉnh thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng năm 2017 phù hợp chức năng, nhiệm vụ, tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, rà soát thủ tục hành chính được quan tâm thực hiện. Công tác hòa giải ở cơ sở có tiến bộ, số vụ hòa giải thành tăng 2% so với cùng kỳ.

IV. CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Tiếp tục hoàn chỉnh Đề án thành lập Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Phú Quốc; đề án thành lập huyện Thổ Châu và đề án thành lập phường Mỹ Đức thuộc thị xã Hà Tiên và thành lập thành phố Hà Tiên thuộc tỉnh để trình Quốc hội.

Xây dựng Đề án tổ chức lại hệ thống sự nghiệp ngành Y tế; đề án sắp xếp lại các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành từ 06 Ban còn lại 03 Ban; thành lập trường Trung cấp Du lịch Quốc tế Regency Phú Quốc; triển khai Quyết định thành lập Trường trung cấp Việt – Hàn Phú Quốc, Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường rừng thuộc Vườn Quốc gia Phú Quốc; chỉ đạo tổ chức lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 04 đơn vị; hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện; xếp hạng lại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Cảng vụ đường thủy nội địa. Phê duyệt đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức cho 20 đơn vị; tổ chức thi tuyển công chức năm 2017.

Xây dựng và triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo cải cách hành chính nhà nước của Trung ương và địa phương, công tác tuyên truyền về cải cách hành chính tiếp tục được duy trì thực hiện bằng nhiều hình thức; chỉ đạo triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh và chỉ số cải cách hành chính của tỉnh; công tác kiểm soát thủ tục hành chính được quan tâm, việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông được duy trì thực hiện ở sở, ngành và địa phương. Triển khai Kế hoạch hành động xây dựng chính quyền điện tử, toàn tỉnh có 21/21 đơn vị sở, ngành và 15/15 UBND cấp huyện triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 với tổng số 656 dịch vụ công mức độ 3; mức độ 4 là 68 dịch vụ .Triển khai việc thực hiện chứng thư số, chữ ký số đến 37/37 cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện.

NHẬN XÉT CHUNG

Thực hiện nhiệm vụ năm 2017, bên cạnh những thuận lợi, tình hình trong tỉnh cũng còn nhiều yếu tố gây khó khăn, bất lợi, nhưng nhờ có sự phấn đấu của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh nên tình hình tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế tăng trưởng khá cao, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch so với cùng kỳ. Xuất khẩu tăng cao so với kế hoạch, cải cách hành chính, môi trường kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản được cải thiện rõ rệt; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp mới được thành lập tăng cao. Khu vực nông nghiệp phục hồi rõ nét (tuy sản lượng lương thực không đạt nhưng giá trị sản xuất tăng khá do giá lúa bình ổn và tăng so với năm trước). Thị trường bình ổn, nguồn hàng hóa trên địa bàn tỉnh khá dồi dào, phong phú, giá cả hợp lý, sức mua tăng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân; giá cả các mặt hàng tiêu dùng và dịch vụ tuy có tăng nhưng không đột biến, không làm ảnh hưởng đến sức mua. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia, kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, thực hiện tốt chính sách đối với người có công, hộ nghèo… đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường, tai nạn giao thông giảm cả 3 mặt. Thực hiện tốt chính sách dân tộc và tôn giáo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội trong năm  còn một số khó khăn như:

Trên lĩnh vực kinh tế, một số chỉ tiêu vẫn còn đạt thấp so với kế hoạch (sản lượng lúa, diện tích và sản lượng nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp, vốn huy động đầu tư toàn xã hội). Mô hình liên kết sản xuất gắn với bao tiêu sản phẩm phát triển chậm so với nhu cầu của người dân. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng chậm. Thời tiết diễn biến thất thường làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân. Việc xử lý ô nhiễm môi trường từng lúc chưa được quan tâm đúng mức, nhất là rác thải sinh hoạt ở khu dân cư nông thôn, khu, điểm du lịch. Công tác quản lý đô thị tại một số địa phương chưa thực hiện chặt chẽ. Nhiều dự án được cấp chủ trương đầu tư nhưng số dự án được triển khai còn rất ít là do công tác thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư của các dự án mất rất nhiều thời gian, công tác bàn giao đất ngoài thực địa còn gặp nhiều khó khăn.

Lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng còn một số mặt hạn chế như: Công tác đầu tư và sửa chữa trường ở một số địa phương còn chậm; việc khắc phục tình trạng thiếu giáo viên mầm non còn gặp khó khăn. Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế còn thấp. Một số dịch bệnh tăng so cùng kỳ. Việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ở một số địa phương chưa thực hiện tốt. Đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa ở cơ sở chậm, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở chưa cao.

Tình hình an ninh trật tự từng lúc, từng nơi diễn biến phức tạp nhất là tình hình khiếu kiện. Công tác phòng ngừa, đấu tranh với một số loại tội phạm từng lúc hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý, bảo vệ ngư trường chưa thực hiện tốt, nhiều vụ tranh chấp trên biển giải quyết chậm, ngư dân ta sang vùng biển nước ngoài khai thác trái phép còn nhiều, từng lúc xảy ra xung đột ngư trường trong vùng nước lịch sử. Tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí tuy nhiên số vụ tai nạn nghiêm trọng tăng so năm trước.

Nguyên nhân những hạn chế, yếu kém nêu trên, có nguyên nhân khách quan tác động như: Tình hình thời tiết, khí tượng thủy văn tiếp tục diễn biến phức tạp không theo quy luật và dự báo ban đầu, nhu cầu về đầu tư xây dựng lớn nhưng nguồn lực còn hạn chế... nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đó là: Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh có mặt chưa kịp thời xử lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành đôi lúc chưa chặt chẽ. Lãnh đạo một số sở, ngành, địa phương từng lúc thiếu quyết liệt trong xử lý, giải quyết một số vấn đề nảy sinh thuộc thẩm quyền, quy trình xử lý từng lúc chưa thực sự nghiêm túc. Tinh thần trách nhiệm của một số công chức, viên chức trong thực thi công vụ chưa cao dẫn đến hiệu quả công việc chưa đạt yêu cầu.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2018

Năm 2018, kinh tế thế giới có khả năng đạt mức tăng trưởng cao hơn năm 2017. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động trên nhiều phương diện, vừa là cơ hội (thúc đẩy nhanh sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực), vừa là thách thức đối với nước ta (sự cạnh tranh, vấn đề giải quyết việc làm, sự thay đổi về cơ cấu sản xuất…). Trong tỉnh, tình hình các mặt ổn định và có bước phát triển, một số dự án, chương trình mục tiêu đã và đang đầu tư, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp. Nền kinh tế của nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém, chất lượng tăng trưởng cải thiện chậm; năng suất lao động, năng lực cạnh tranh thấp, thiếu nhân lực chất lượng cao. Nợ xấu, nợ công cao. Trong tỉnh, vốn đầu tư toàn xã hội, sản xuất công nghiệp, thị trường tiêu thụ nhất là xuất khẩu nông sản còn nhiều khó khăn, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong khi sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu; biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến bất thường; an ninh trên biển, ngoại biên biên giới, khiếu kiện còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Việc Liên minh Châu Âu (EU) phạt thẻ vàng đối với thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu thủy sản của tỉnh trong thời gian tới.

I. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2018

1. Mục tiêu tổng quát

Bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với chú trọng cải thiện tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả, nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Tiếp tục thực hiện các chính sách về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng chống thiên tai, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh và trật tự an toàn xã hội.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7,5% trở lên so với năm 2017 (tổng sản phẩm GRDP đạt 61.905,82 tỷ đồng); thu nhập bình quân đầu người đạt 1.970 USD.

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp 1,78%. Tổng sản lượng lúa đạt 4,25 triệu tấn.

- Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 784.000 tấn. Trong đó: Sản lượng khai thác 554.000 tấn và sản lượng nuôi trồng 230.000 tấn (tôm nuôi 69.000 tấn).

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp 9,2%

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 520 triệu USD;

- Tổng kim ngạch nhập khẩu 55 triệu USD.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 95.500 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 9.236 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách 14.328,63 tỷ đồng; trong đó, chi đầu tư phát triển 5.619,237 tỷ đồng; chiếm 39,2% chi ngân sách.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 46.322,63 tỷ đồng.

- Tỷ lệ nhựa hóa hoặc bê tông hóa đường giao thông ấp và liên ấp 76% (thêm 382 km).

- Phấn đấu có thêm 11 xã đạt 19 tiêu chí xã nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới 51/118 xã.

- Phấn đấu giảm tỷ lệ sinh 0,2‰; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 6,85‰.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 13,1%.

- Tỷ lệ huy động học sinh từ 6-14 đi học so với độ tuổi trên 96%.

- Số người được giải quyết việc làm 35.000 người, Tỷ lệ lao động qua đào tạo 60%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề có bằng cấp, chứng chỉ đạt 48%.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1-1,5%.

- Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 84%. Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 80%.

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 10,96%.

- Tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 88%.

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 98,9%.

- Công tác tuyển quân đạt 100%.

- Số vụ tai nạn giao thông giảm so với năm 2017.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Để thực hiện mục tiêu tổng quát và phấn đấu tăng trưởng kinh tế đạt kế hoạch, UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, các địa phương tập trung chỉ đạo quyết liệt,khắc phục khó khăn và tổ chức thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp như sau:

1. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế

Thực hiện tốt việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp - nông thôn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, nhất là triển khai thực hiện chương trình nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Vận động, khuyến cáo hướng dẫn người dân sử dụng giống lúa chất lượng cao trong sản xuất, để nâng tỷ lệ sản xuất lúa chất lượng cao nhằm tăng sản lượng lúa hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Tổ chức rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với điều kiện phát triển và thích ứng với biến đổi khí hậu cho từng vùng. Tập trung sản xuất, tăng vụ và mở thêm diện tích ở những địa bàn chuyển đổi cơ cấu sản xuất khi có điều kiện ở các địa phương chịu ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu; xây dựng vùng lúa chuyên canh tập trung chất lượng cao theo mô hình cánh đồng lớn theo hướng hợp tác, liên kết sản xuất gắn với bao tiêu sản phẩm.

Tạo điều thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và xây dựng nông thôn mới; nhân rộng các mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp có hiệu quả, giá trị kinh tế cao, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Coi trọng hơn nữa việc hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kiểm tra, giám sát chặt chẽ chất lượng giống, vật tư nông nghiệp và nông sản; phòng trừ các loại dịch bệnh trên cây trông, vật nuôi, gia súc, gia cầm và thủy sản. Tập trung đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thông thủy lợi, các cống ven biển bảo đảm hệ thống thủy lợi thích ứng với biến đổi khí hậu, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tranh thủ các nguồn vốn tập trung khắc phục tình trạng sạt lở ven biển trên địa bàn tỉnh. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mùa vụ, ngành nghề tại các vùng bị tác động bởi biến đổi khí hậu.

Tiếp tục phát triển hiệu quả các ngành kinh tế biển và đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, hướng dẫn ngư dân tổ chức khai thác theo tổ, đội để hỗ trợ nhau trong sản xuất. Tăng cường công tác quản lý, tuần tra kiểm soát ngư trường và tuyên truyền, vận động ngư dân khai thác hải sản đúng quy định, không được sang vùng biển nước ngoai khai thác hải sản trái phép, bảo vệ tốt nguồn lợi thủy sản và môi trường biển.

Đẩy mạnh đầu tư phát triển nuôi tôm công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên, nhất là nuôi tôm theo mô hình công nghệ cao, chú trọng phát triển hình thức liên kết theo chuỗi; đẩy mạnh phát triển nuôi cá lồng bè, nhuyễn thể 02 mảnh vỏ trên biển. Khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp tập trung, trang trại, tăng tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp.

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng các vườn quốc gia và rừng phòng hộ ven biển. Tập trung trồng mới rừng phòng hộ ven biển, gắn với tiếp tục triển khai thực hiện dự án nâng cấp đê biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và tạo nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất chế biến gỗ công nghiệp của tỉnh.

Đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với nâng cao đời sống của người dân. Chú trọng công tác tuyên truyền trong nội bộ và nhân dân nâng cao nhận thức, tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới; tập trung chỉ đạo thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới, đồng thời nâng lên chất lượng thực hiện các tiêu chí đã và đang thực hiện, nhất là các xã, huyện đã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới. Ưu tiên tập trung nguồn lực xây dựng các xã biên giới đạt tiêu chí nông thôn mới. Tăng cường đầu tư để tăng tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và sử dụng hệ thống nước sạch.

Khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và nâng sức cạnh tranh trên thị trường. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông thủy sản, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, nông thôn; chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất ngành công nghiệp trong nền kinh tế nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp có đủ lòng tin, động lực để đầu tư phát triển vào các ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh, là các ngành có thế mạnh như công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ gắn với liên kết chuỗi giá trị, từ đó giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, khắc phục tình trạng di dân ra ngoài tỉnh.

Tăng cường theo dõi, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh. Triển khai các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Tập trung khai thác tốt các thị trường truyền thống, gắn với phát triển các thị trường mới. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất hàng giả, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Thực hiện hiệu quả các giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đẩy mạnh hợp tác, liên kết hoạt động du lịch với các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài. Đẩy mạnh công tác thông tin xúc tiến, quảng bá du lịch, các công ty, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch tổ chức được nhiều chương trình, sự kiện với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, hấp dẫn du khách trong và ngoài tỉnh; tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác du lịch. Tạo chuyển biến rõ nét, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, văn hóa, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách.

Thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, khai thác hiệu quả các nguồn thu; tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, chống thất thu, nợ đọng thuế; kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi ngân sách. Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ và các giải pháp tín dụng, ngân hàng.

Tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với việc khai thác và sử dụng tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, trong đó quan tâm bảo vệ môi trường biển, hải đảo; quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước ngầm. Chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống, khắc phục thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh.

2. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nguồn nhân lực, phát triển văn hóa - thể thao, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, quy hoạch mạng lưới trường, lớp (hạn chế điểm lẻ) bảo đảm cơ cấu hợp lý theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Chú trọng đầu tư xây dựng các phòng học mầm non, tiểu học, trường đạt chuẩn quốc gia, trường trọng điểm và trường chuyên biệt trên địa bàn tỉnh. Thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục các cấp; gắn với củng cố, sắp xếp, đội ngũ giáo viên, khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ giáo viên. Thực hiện tốt việc huy động học sinh trong độ tuổi đến trường; làm tốt công tác phân luồng học sinh sau trung học, hạn chế học sinh bỏ học. Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gắn với nâng cao hiệu quả dạy nghề; tổ chức rà soát, bổ sung các ngành, nghề đào tạo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của tỉnh và nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, gắn kết chặt chẽ trong công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm.

Triển khai thực hiện Đề án tổ chức lại hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế. Đẩy mạnh đào tạo và thu hút nhân lực y tế chuẩn bị cho các bệnh viện mới đi vào hoạt động. Tăng cường y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Chủ động kiểm soát, phòng chống ngăn chặn kịp thời các loại dịch bệnh. Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Đẩy mạnh thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Chú trọng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác quản lý hoạt động tổ chức lễ hội, các sự kiện, biểu diễn nghệ thuật. Chỉ đạo tổ chức tốt Đại hội Thể dục thể thao cấp huyện, thị, thành phố, tiến tới Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Kiên Giang lần thứ VIII năm 2018. Tiếp tục đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa cấp tỉnh, đồng thời ưu tiên đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao ở các xã nông thôn mới, gắn với củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động các thiết chế hiện có.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí; thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn và cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin về tình hình kinh tế - xã hội và những vấn đề dư luận quan tâm. Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng.

Thực hiện đầy đủ chế độ, các chính sách đối với người có công với cách mạng; chính sách trợ giúp xã hội... nhất là chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công, hỗ trợ nhà ở cho người nghèo. Thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; ưu tiên nguồn lực phát triển các xã nghèo, các xã khó khăn, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh công tác đối ngoại và cải cách hành chính

Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; tăng cường phối hợp nắm chắc, dự báo đúng tình hình, chủ động ứng phó kịp thời, hiệu quả với mọi tình huống. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ các huyện: Giồng Riềng, Vĩnh Thuận, Châu Thành và thành phố Rạch Giá. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân năm 2018.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả các âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, ma túy, tham nhũng, môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao và các loại tệ nạn xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt công tác phối hợp, nắm tình hình tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, không để hình thành điểm nóng về an ninh, trật tự.

Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, tiếp tục phấn đấu giảm tai nạn trên cả 3 tiêu chí; tăng cường phòng chống cháy nổ, sẵn sàng ứng phó kịp thời, xử lý hiệu quả các sự cố thiên tai và cứu hộ, cứu nạn.

Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý tình huống tranh chấp, vi phạm ngư trường; có biện pháp ngăn chặn tàu thuyền nước ngoài xâm nhập vùng biển nước ta và tàu thuyền ngư dân ta sang vùng biển nước ngoài khai thác hải sản trái phép. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát biên giới, vùng biển; đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại qua biên giới, vùng biển; xử lý có hiệu quả các tình huống phát sinh, tranh chấp trên biên giới. Triển khai công tác xây dựng các công trình cột mốc mới được xác định và xây dựng các cột mốc phụ khi có hướng dẫn của trên đảm bảo đúng quy trình thiết kế kỹ thuật chất lượng để đẩy nhanh tiến độ.

Đẩy mạnh công tác truyền thông về hội nhập. Tiếp tục mở rộng và tăng cường quan hệ với các đối tác trong khu vực và quốc tế; đẩy manh quảng bá tiềm năng, thế mạnh của địa phương, thu hút đầu tư phát triển. Tiếp tục duy trì tốt quan hệ với chính quyền, lực lượng vũ trang các tỉnh giáp biên thuộc Campuchia, nhất là việc thực hiện các thỏa thuận đã được ký kết.

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện kế hoạch cải cách hành chính; trong đó, tập trung cải thiện và nâng cao các chỉ số như: Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX); chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công (PAPI); chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) giai đoạn 2017-2020 và năm 2018. Thường xuyên cập nhật đúng, đủ, kịp thời thủ tục hành chính đang có hiệu lực thi hành, niêm yết công khai đúng quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính. Rà soát phát hiện các quy định, thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết để kịp thời sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung. Đưa vào hoạt động Trung tâm Hành chính công của tỉnh. Đẩy mạnh triển khai một số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, tích hợp vào cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh phục vụ tra cứu kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

Trên đây là tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 của UBND tỉnh./.

Phòng Tổng hợp – VP. UBND tỉnh

[Trở về]

Các tin đã đưa:

 
 

 

 

 Sở Ban Ngành
   Sở Công Thương
   Quỹ Đầu tư Phát triển
   KS Thủ tục Hành chính
   Viện Kiểm Sát
   Thanh tra tỉnh
   Chi Cục QL Thị trường
   Sở TT Truyền Thông
   Sở Lao động TB&XH
   Sở Giao thông vận tải
   Sở Khoa học Công nghệ
   Sở Nông nghiệp và PTNT
   Sở Nội Vụ
   Sở Tài chính
   Sở Y tế
   Xúc tiến Thương mại
   Liên Minh Hợp Tác Xã
   Sở Ngoại Vụ
   Sở Tài Nguyên MT
   Sở Xây dựng
 Các Huyện Thị
   Thị Xã Hà Tiên
   Thành Phố Rạch Giá

Dịch vụ công trực tuyến

Các Website liên kết

 

 

 

Website thông tin kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang - www.kiengiang.gov.vn

Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang

Cơ quan thiết lập: Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang

Giấy phép do Cục Báo chí cấp, số: 70/GP-BC

Chịu trách nhiệm chính: Ông Huỳnh Vĩnh Lạc, Chánh Văn Phòng UBND tỉnh Kiên Giang

Địa chỉ BBT: 06 Nguyễn Công Trứ - Vĩnh Thanh - Rạch Giá - Kiên Giang

Điện thoại: (0297) 3944977 , Fax: (0297) 3862687 , Email: bbt@kiengiang.gov.vn

Ghi rõ nguồn "www.kiengiang.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ Website này.